Duy tuệ thị nghiệp

         Lý tưởng giáo dục và những phương pháp thực hiện lý tưởng này, hiển nhiên Phật giáo đã có một lịch sử rất dài. Phạm vi hoạt động của nó không chỉ giới hạn chung quanh những tàng kinh các, hay những pháp đường của các Tăng viện; mà còn ở cả nơi triều đình, công sảnh, và bất cứ nơi nào mà mọi người có thể tụ tập ít nhất là hai người, trong tất cả sinh hoạt nhân gian. Thêm vào đó là những biến chuyển qua các thời đại, sự dị biệt của các dân tộc... Tất cả được tập đại thành trong một bộ sử khá lớn của Phật giáo về vấn đề giáo dục. Dù vậy, ngày nay, vấn đề đó vẫn còn là một thể tài quá mới mẻ đối với giới Phật học. Sự va chạm giữa nền văn minh Đông và Tây, so với sự tiếp xúc giữa nền văn minh Hoa Ấn diễn ra từ cuối thế kỷ I Tây lịch kéo dài cho đến thế kỷ XI hay XII, đặc trưng qua hai triều đại Đường và Tống, với nỗ lực của trên mười thế kỷ đó, sự va chạm mà chúng ta chứng kiến ngày nay quả là không thấm vào đâu.
          Khó khăn chính yếu của chúng ta hiện tại không phải là vấn đề phương pháp như đa số lầm tưởng. Những cống hiến của các nhà Phật học trong lãnh vực ngôn ngữ Âu châu đã chứng minh điều đó. Thể điệu trước tác của những hệ thống tư tưởng và văn học của Phật giáo giờ không còn là một "mê hồn trận" khó vào nữa. Xưa kia, người Trung hoa đã làm thế nào mà nắm ngay được "mạch ngầm" của Phật giáo để thực hiện nó theo bản sắc dân tộc và truyền thống văn học tư tưởng của mình, đấy là kinh nghiệm rất phong phú. Mặc dù giữa hai quốc gia này bị ngăn chận bởi dải sa mạc mênh mông giữa miền Cao Á và ngọn Thông lĩnh lạnh lùng; với biên giới thiên nhiên quá hiểm nghèo này, khả năng bình thường của con người khó vượt qua nổi bằng chính hai chân không của nó. Thế mà cả hai dân tộc này đã có lúc "thông cảm" nhau được. Đông và Tây của chúng ta không có những biên giới khốn nạn như vậy, thì sự "thông cảm" tại sao lại khó khăn? Điều đó có nghĩa rằng những khó khăn mà Phật giáo gặp phải, riêng trong lãnh vực giáo dục, không phải là "kỹ thuật khoa học" hay "truyền thống tâm linh" giữa Đông phương và Tây phương. Nhưng nếu gạt những vấn đề này ra ngoài, e rằng chúng ta dễ có khuynh hướng dẫm lên "lãnh vực siêu hình", như một giai thoại của Trang Tử: "Anh không phải là cá sao biết cá vui?"
          Chúng ta biết rằng trong những cuộc thảo luận của các Đại học ở Á châu, người ta thường nhắc đến "kỹ thuật khoa học của Tây phương" và "Truyền thống tâm linh của Đông phương". Rồi lấy đó làm sứ mệnh mà các Đại học Á châu phải nỗ lực thể hiện cho "tốt đẹp mọi đường hướng." Xét về nội dung cũng như ý hướng, điểm vừa nêu chỉ là một khẩu hiệu, không hơn không kém. Chúng tôi sẽ không cố ý khảo nghiệm về hiệu lực của khẩu hiệu này.
Hiển nhiên, sự thực phải chấp nhận rằng kỹ thuật khoa học là sản phẩm độc đáo và gần như là độc nhất của Tây phương. Riêng về các Triết gia Tây phương trong thế kỷ này, họ thấu hiểu tính thể kỹ thuật khoa học một cách vô cùng tế nhị. Giả sử chúng ta đã hiểu rõ cặn kẽ một trong những mệnh đề ách yếu của Hiện sinh luận, theo đó, hiện hữu có trước yếu tính. Rồi từ đó mà suy diễn sẽ thấy rằng bản tính sâu xa của một hiện tượng cá biệt được thể hiện ngay trong phương tiện hay phong cách hiện hữu như cá biệt của nó. Đấy chỉ mới là nhận định đại khái. Nếu lấy thí dụ điển hình từ một vài triết gia, về những cống hiến của họ cho thể tài ngôn ngữ trong triết học Tây phương hiện đại chúng ta sẽ thấy ra đâu là tính thể của "kỹ thuật khoa học" và đâu là bản chất của "truyền thống tâm linh".
          Wittgenstein là một điển hình độc đáo; ý tưởng chỉ đạo được ghi trong Tractatus: ngôn ngữ là khuôn hình của thế giới. Do đó, giới hạn của ngôn ngữ chúng ta chính là giới hạn của thế giới chúng ta. Ý tưởng này muốn nói rằng chính tất cả những phương pháp vận dụng ngôn ngữ của chúng ta hình thành nên một vũ trụ quan hay nhân sinh quan nào đó. Mọi "không tưởng" mà người ta có thể khám phá ra ở một triết gia, không phải do bản chất không tưởng trong tư tưởng của ông, nhưng chính ngôn ngữ và phương pháp vận dụng ngôn ngữ của ông đã khép kín ông vào trong tháp ngà của một thứ tư duy không tưởng nào đó. Ngôn ngữ không còn là một thực thể ngoại tại và phổ biến mà ai cũng có thể vận dụng tùy nghi để nói lên những gì ẩn kín trong lòng. Thường nhật, với câu hỏi "cái này là gì?", chúng ta có cảm tưởng rằng nếu thỏa mãn được chữ "gì?" là đã có thể giải quyết được vấn đề, theo tiêu thức tổng quát của ngôn ngữ (x,y) hay E (x,y). Thực ra, vấn đề chỉ được thỏa mãn bằng cách vận dụng hợp qui đối với các khả biến, lại là tùy thuộc những liên hệ giữa định lượng phổ biến và định lượng cá biệt. Nhưng một khi những định lượng này được cứu xét kỳ cùng, chúng bộc lộ ngay tính cách "giả tưởng" và cuối cùng tiêu thức tổng quát của ngôn ngữ thảy là mệnh đề giả hiệu. Phân tích như vậy tạo nên một cảm giác thất vọng đối với mọi thứ qui tắc ngôn ngữ mệnh danh là "nghiêm túc" hay "chính xác"; và người ta chỉ còn một tin tưởng độc nhất là ngôn ngữ của thi ca. Dù nó không nghiêm túc và chính xác như trong "kỹ thuật khoa học", nhưng khả năng thông diễn thực tại của nó quả là vô cùng phong phú. Bởi vậy các nhà thực nghiệm luận lý trong triết học Tây phương hiện đại chỉ chịu nghe theo ngôn ngữ của âm nhạc hơn bất cứ mệnh đề triết học hay khoa học nào.
           Ở đây chúng ta cũng không quên những cống hiến của Michel-Foucault đối với nền triết lý ngôn ngữ hiện đại. Trật tự của ngôn ngữ là trật tự của thế giới. Đấy là điểm chính yếu. Ông mệnh danh sự cống hiến của mình là Khảo cổ học. Bởi vì, người ta có thể tìm thấy mọi dấu vết của lịch sử văn minh nhân loại qua các thời đại bằng vào lịch sử phát triển của văn pháp. Dị biệt tính của các nền tư tưởng có thể theo đây mà khám phá. Lấy thí dụ, một trong những khó khăn của những giáo sư triết tại Việt Nam hiện nay đã đối đầu khi phải trình bày về quan niệm L\' être hay Being hay Sein. Người học triết vì vậy rất bối rối, khi các dụng ngữ Việt không chứa thêm các chữ này. Những tồn thể, hữu thể, tính thể, rồi thể tính, vân vân. Vì lẽ rằng cơ cấu văn pháp Việt ngữ không hề có những opus này. Ngôn ngữ Âu châu đã từng bất lực về L\' être et le temps, thì bằng vào cơ cấu văn pháp của Việt ngữ không thôi, chúng ta không làm sao hiểu ra giới hạn của sự bất lực này. Khi một triết gia nói: "Câu hỏi về tính thể là một câu hỏi phổ biến tổng quát nhất, câu hỏi rỗng tuếch nhất trong những câu hỏi, nhưng đồng thời câu hỏi ấy lại cũng có thể được cụ thể hóa chung đúc lại rõ ràng nhất trong bất cứ hiện tính thể cá biệt nào". Đây là những lời rất xa lạ đối với cơ cấu văn pháp Việt ngữ. "Tính thể là một câu hỏi phổ biến tổng quát nhất,…", thực sự, l\' être hay être mới là "phổ biến tổng quát" trong tiếng Pháp, còn tính thể thì không như vậy. Khổ tâm nhất cho người ta là không thể thay là cho tính thể. Như vậy, khi một người nói: thảm họa của dân tộc Việt Nam ngày nay được ghi đậm máu và nước mắt trên "câu hỏi về tính thể", thì đã bộc lộ một cách chua cay về định mệnh khốn nạn của dân tộc này vốn bị ám ảnh bởi khẩu hiệu "phát triển kỹ thuật khoa học Tây phương và duy trì truyền thống tâm linh Đông phương". Sự phát triển như vậy chỉ có nghĩa là biến tính và tự hủy chứ không phải duy trì gì hết.
            Thế nhưng, như đã nói, không phải vì cố giải quyết êm đẹp khẩu hiệu ấy mà những sinh hoạt của tư tưởng Phật học trong lãnh vực giáo dục đã đương đầu với vô số khó khăn. Trong quá khứ, Phật giáo đã từng từ bỏ sắc thái của chế độ tăng lữ vốn phải ẩn cư trong các núi rừng sâu thẳm, để đi đến nơi nào có máu và nước mắt đổ xuống vì nhân sinh; và cũng đã từ bỏ màu sắc Ấn độ của nó để đi đến nơi nào có sự sống và có khát vọng giác ngộ về lẽ sống. Dù vậy, đức Thích Ca vẫn là người bằng xương bằng thịt, chưa hề là một thần linh cao cả. Do đó, phát triển hay duy trì một sản phẩm văn hóa nào đó không phải là vấn đề trọng đại để có thể đánh lừa như một khẩu hiệu hay một nhãn hiệu. Nó là lửa; chỉ có thể cắm bảng hiệu ở xa chứ không thể cắm ngay giữa lòng. Ngọn lửa đó, một khi được khơi dậy, nó làm sáng ngời lên khát vọng nóng bỏng nhất trong căn để sâu xa của lòng người; để người ta có thể thấy rõ, quả thực, mình muốn gì trong cuộc sống này?
           Dù sao, không ai lại có thể làm ngơ trước những thành quả mà kỹ thuật khoa học Tây phương đang gây ảnh hưởng lớn lao trên mọi lãnh vực của thế giới hiện đại. Nói riêng cớ cấu tổ chức xã hội, ngay tại Việt nam, trong những năm qua, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã gặp những khủng hoảng trầm trọng. Lý do chính yếu, có lẽ người ta phải công nhận rằng đây là vấn đề nan giải giữa những nguyên tắc tổ chức cơ cấu xã hội và truyền thống tâm linh. Nghĩa là, bất cứ bằng cách nào, chúng ta vẫn phải bị đè nặng dưới áp lực của khẩu hiệu Phát triển và Duy trì; giữa kỹ thuật khoa học và truyền thống tâm linh. Truyền thống này dĩ nhiên bị biến tính tận căn để khi được lồng vào những nguyên tắc tổ chức bắt nguồn từ vũ trụ quan và nhân sinh quan của Tây phương; hay rõ hơn, của khoa học và tính cách thực dụng của khoa học. Một số học giả Phật giáo Tây phương khi nghiên cứu về đường lối tổ chức của giáo đoàn tăng lữ của phật giáo đã tỏ ý làm lạ: bằng một nguyên tắc nào đó mà giáo đoàn tăng lữ đã vượt qua được mọi khủng hoảng đáng lý phải phân hóa; vì sự khủng hoảng đã thực sự diễn ra và tạo thành trên hai mươi bộ phái Phật giáo. Rồi đến khi Đại thừa Phật giáo ra đời, sự xung đột về tư tưởng lại càng rõ rệt. Nhưng, người ta vẫn nhận thấy một điều: sinh hoạt của giáo đoàn tăng lữ không bị phân chia; giáo hội vẫn theo một hình thức duy nhất mệnh danh là nguyên thủy. Có tư tưởng Đại thừa, nhưng chưa hề có giáo hội Đại thừa; Tăng lữ vẫn phải sinh hoạt theo Thanh tịnh giới bổn. Hiển nhiên, trong đó, một vài tiểu tiết được sửa đổi; vì hoàn cảnh địa lý hay thời đại. Chẳng hạn, tại những vùng khí hậu lạnh như ở Trung hoa, vấn đề khất thực khó mà thi hành đúng theo nguyên thủy; hay không thể triệt để cấm tàng trữ thực phẩm cách đêm. Ngày nay, tổ chức của Giáo hội tại Việt nam không còn lấy Thanh tịnh giới bổn làm nguyên tắc chỉ đạo, mà căn cứ theo thể thức phân quyền của Tây phương. Thể thức này đang biến tính "truyền thống tâm linh" trong một vài phương diện. Thí dụ, bốn ba la di được coi là sinh mệnh của cơ cấu tăng lữ nay dần dần mất tính cách hệ trọng của chúng. Trước đây, một số tăng sĩ, do ảnh hưởng của tâm phân học, đã giải thích các ba la di theo đường lối hơi lạ lùng. Tình trạng này đang trở thành sự thật, và người ta chỉ còn cách "hợp thức hóa" những sự kiện "đã rồi". Trong đây, nội tình còn nhiều phức tạp vượt ngoài khả năng hiện hữu nên chúng tôi không thể đi sâu vào các chi tiết.
           Trên tất cả mọi vấn đề, chính thành quả của kỹ thuật khoa học Tây phương, với tính cách thực dụng của nó đối với những nhu cầu thiết yếu của đời sống, đã là một ám ảnh đè nặng lên tâm trí những người cố duy trì "Hữu hiệu" truyền thống tâm linh. Rồi ra, người ta cũng đòi hỏi phương pháp thiền định chẳng hạn, phải làm sao để có hiệu lực y như bất cứ thành quả nào mà khoa học có thể mang đến. Như vậy, nếu khoa học có thể làm giảm thiểu hay diệt trừ những tai họa nào đó của đời sống thường nhật, người ta cũng muốn đòi hỏi thiền định phải có hiệu năng đó, ít nhất là tương đương, nếu không nói là hoàn hảo hơn. Xưa kia, một người đi học thiền, thiền sư đòi hỏi y phải loại bỏ những mong cầu "thực dụng" nơi thiền. Nếu đời sống thường nhật nhờ tập thiền mà tránh được một vài bất trắc, như bịnh hoạn, thì đấy phải coi là kết quả "đương nhiên", có tính cách phụ thuộc, không nên lấy đó làm mục đích. Người ta không được phép học thiền để có thể sống qua ngày tháng, sống trọn cuộc đời không tai họa. Nói như thế bỗng nhiên bị coi là không tưởng. Một giai thoại khá lý thú, kể rằng, khi Phật sửa soạn qua sông bằng đò, ngài gặp một ẩn sĩ; vị này thách thức ngài, với hiệu nghiệm của công trình tập thiền, nếu có, ngài thử vượt qua con sông mà không cần đò; có thế mới chứng tỏ được sự tiến bộ tâm linh. Phật nói, ngài chỉ cần vài xu nhỏ, rất dễ kiếm, là có thể qua sông được, cần gì phải bỏ ra một quãng đời tập thiền. Thực sự, khi muốn khảo nghiệm đời sống tâm linh bằng hiệu năng thực tế, quả tình người ta đã tạo ra một không tưởng trên tất cả mọi không tưởng; thế mà vẫn coi đó là điều lý thú!
            Khó khăn của chúng ta chính là đây. Ngày nay hay ngày xưa, người ta vẫn đòi hỏi rằng chân lý phải được khảo nghiệm bằng hiệu năng thực tế.
Do đó, một nền giáo dục hoàn hảo phải chứng tỏ những hiệu năng nó có thể mang lại để thỏa mãn nhu cầu của người học. Vậy rồi, thay vì mở ra những con đường đi vào thế giới tâm linh sống động, người ta đã quay ngược lại để trở về với những nhu cầu hạ cấp của người học. Họ gieo cho người học những sợ hãi bất an trước một tương lai nào đó. Những "sinh tồn", "diệt vong" v.v., đấy là những mệnh đề giả hiệu, chúng có tác dụng làm tăng mối sợ hãi. Nhưng chúng cũng có thế lực khích động rất lớn, và đề ra những đường lối phải theo. Y như một người tranh cử, hăm dọa cử tri bằng những viễn tượng đen tối của ngày mai, nếu mình không được chọn lựa. Cũng vậy, đối với chúng ta, một đường lối giáo dục được lựa chọn là có phát triển và có duy trì; vừa tiến bộ và vừa không mất gốc. Trong trường hợp cực đoan, nếu bắt buộc phải chọn một trong hai, hoặc phát triển, hoặc duy trì, xưa nay Phật giáo đã chọn lối đi thứ nhất. Gốc của con người là ở tại lòng người, thì dù có phát triển đến đâu bằng cả tấm lòng của mình, chẳng có gì gọi là mất cả. Những thành ngữ quen thuộc: "phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật" hay "khổ hải thao thao, hồi đầu thị ngạn."
          Trên đây chỉ đề cập đến một vài lý tưởng, gọi là ngoài lề. Bởi vì, trọng tâm của nó, với bốn chữ Duy Tuệ Thị Nghiệp, đã bị biến tính để rồi Tuệ ở đây có nghĩa là kiến thức học vấn, gồm những "kỹ thuật", "phương pháp", dành cho khẩu hiệu phát triển kỹ thuật, khoa học và duy trì truyền thống tâm linh.

TUỆ SỸ

Tin khác:
Trang ( 1/2) : 1 | 2
   Hoằng pháp
Bình Dương: Hội nghị phổ biến chính sách, pháp luật và tín ngưỡng tôn giáo năm 2022

Sáng ngày 18/7/2022, tại Trường Chính trị tỉnh (phường Chánh Nghĩa, TP. Thủ Dầu Một), Ủy ban Nhân dân và Ban Tôn giáo tỉnh Bình Dương đã tổ chức Hội nghị phổ biến chính sách, pháp luật và tín ngưỡng tôn giáo cho chức sắc, chức việc các tôn giáo và đại diện cơ sở tín ngưỡng tỉnh Bình Dương năm 2022.

Chư Tăng Ni Phật giáo tỉnh Bình Dương bố tát định kỳ trong mùa An cư kiết hạ Pl.2566

Sáng ngày 13/7/2022 (nhằm ngày 15/6 năm Nhâm Dần), chư Tôn đức thành viên Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương và Tăng Ni hành giả an cư trên toàn tỉnh đã vân tập về Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn – Tổ đình Hội Khánh (phường Phú Cường, TP. Thủ Dầu Một), để bố-tát, thính giới định kỳ trong mùa An cư kiết hạ Phật lịch 2566.

Bình Dương: Truyền giới Tỳ kheo, Sa-di, Tỳ kheo Ni, Thức xoa Ma na và Sa di Ni

Chiều ngày 25/6/2022, các đàn giới thuộc Đại giới đàn Thiện An PL.2566 – DL.2022 do Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương chính thức đăng đàn truyền giới Tỳ kheo, Sa di, Tỳ kheo Ni, Thức xoa Ma na và Sa di Ni tại hai giới trường.

Lễ Khai Mạc Đại giới Đàn Thiện An Hòa thượng Thích Thiện Nhơn đương vi Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn Thiện An

Sáng ngày 25/6/2022 (nhằm ngày 27/5/Nhâm Dần) tại Giới trường Tổ đình Hội Khánh - Trụ sở BTS GHPGVN tỉnh Bình Dương (P.Phú Cường, TP.Thủ Dầu Một) đã trang nghiêm diễn ra lễ khai mạc Đại giới đàn Thiện An do BTS Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức.

Bình Dương: Trang nghiêm lễ cung nghinh tôn ảnh HT. Thích Thiện An về giới trường Tổ đình Hội Khánh và chùa Bồ Đề Đạo Tràng

Theo chương trình Đại Giới đàn Thiện An, sáng ngày 23/6/2022 (nhằm ngày 25/5 năm Nhâm Dần), Ban Tổ chức Đại Giới đàn đã đến chùa Bửu Phước (thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo) làm lễ cung thỉnh tôn ảnh cố Hòa thượng thượng Thiện hạ An (tôn danh được lấy làm tôn hiệu của Đại giới đàn) và giới Bổn về Tổ đình Hội Khánh, chùa Bồ Đề Đạo Tràng, địa điểm truyền giới cho các giới tử. Nghi thức do Ban Nghi lễ GHPGVN tỉnh Bình Dương đảm trách, gồm: Tôn ảnh, Giới bổn, long đình, bát bửu, long trượng.v.v….với gần 500 giới tử sẽ làm hàng chào cung nghinh đoàn rước tôn ảnh và giới bổn theo nghi thức Phật giáo.

CÂU HỎI ÔN ĐÀN SA DI VÀ SA DI NI ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN GIÁO HỘI. 1/ Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ nhất diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ nhất diễn ra vào ngày 04– 07/11/1981 tại Nhà Văn Hoá Việt-Xô, Thủ Đô Hà Nội. 2/ Vị Chủ Tịch HĐTS đầu tiên của GHPGVN là ai? Vị Chủ Tịch HĐTS đầu tiên của GHPGVN là Đức Đại Lão Hoà Thượng Thích Trí Thủ. 3/Từ ngày được thành lập đến nay, Giáo hội Phật giáo Bình Dương đã trãi qua bao nhiêu lần Đại Hội? Lần Đại Hội sau cùng diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Từ ngày được thành lập đến nay, Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương đã trãi qua 10 lần Đại hội, lần Đại hội sau cùng diễn ra vào ngày 02-03/ 01/ 2022, diễn ra tại Trung tâm văn hóa Tượng Phật Niết bàn chùa Hội Khánh.

CÂU HỎI ÔN THI ĐÀN THỨC XOA MA NA NI ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN GIÁO HỘI. 1/ HĐCM được suy tôn tại Đại Hội Đại Biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất gồm có bao nhiêu vị? Do ai làm Pháp Chủ? Tại Đại Hội Đại Biểu Phật giáo lần I, HĐCM GHPGVN được suy tôn tất cả là 56 vị do Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp Chủ. 2/Từ khi được thành lập đến nay, GHPGVN đã trải qua bao nhiêu lần Đại Hội? Lần Đại Hội sau cùng diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Từ khi được thành lập đến nay, GHPGVN đã trãi qua 8 lần Đại hội. Đại hội sau cùng là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8, diễn ra vào ngày 19, 20, 21 va 22 tháng 11 năm 2017 tại cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội.

CÂU HỎI ÔN THI ĐÀN TỲ KHEO NI ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN I: GIÁO HỘI 1/ Đại Hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ 8, nhiệm kỳ ( 2017-2022) của GHPGVN diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ 8 của GHPGVN diễn ra vào ngày 19 – 22 / 11/ 2017, tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, thủ đô Hà Nội. 2/ GHPGVN là tiền thân của bao nhiêu tổ chức? Kể ra cụ thể? GHPGVN là tiền thân của 9 tổ chức Hệ Phái Phật Giáo trong cả nước, đó là:  Hội Thống Nhất Phật giáo Việt Nam  Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.  Giáo Hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam.  Ban Liên Lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM.  Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.  Giáo Hội Phật giáo Thiên Thai Giáo Quán.  Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam.  Hội Sư Sãi Yêu Nước Miền Tây Nam bộ.  Hội ...

CÂU HỎI ÔN THI ĐÀN TỲ KHEO ĐẠI GIỚI ĐÀN THIỆN AN

I/PHẦN I: GIÁO HỘI 1/ Đại Hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ I của GHPGVN diễn ra vào ngày, tháng, năm nào? Tại đâu? Đại Hội Đại Biểu toàn quốc lần thứ nhất của GHPGVN diễn ra vào ngày 04-07/ 11/ 1981, tại Chùa Quán Sứ, Thủ Đô Hà Nội. 2/ GHPGVN là tiền thân của bao nhiêu tổ chức? Kể ra cụ thể? GHPGVN là tiền thân của 9 tổ chức Hệ Phái Phật Giáo trong cả nước, đó là:  Hội Thống Nhất Phật giáo Việt Nam  Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.  Giáo Hội Phật giáo Cổ Truyền Việt Nam.  Ban Liên Lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM.  Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.  Giáo Hội Phật giáo Thiên Thai Giáo Quán.  Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam.  Hội Sư Sãi Yêu Nước Miền Tây Nam bộ.  Hội Phật Học Nam Việt.

Phật giáo Bình Dương thính giới kỳ đầu tiên trong mùa An cư Kiết hạ PL. 2566

Truyền thống An cư Kiết hạ là mạng mạch của Tăng già, là thước đo phẩm hạnh của người xuất gia. Trên tinh thần đó, sáng ngày 29/5/2022 (nhằm ngày 29/4 năm Nhâm Dần), chư Tôn đức Tăng Ni hành giả an cư đồng tập trung về Trung tâm Văn hóa tượng Phật nhập Niết Bàn – Tổ đình Hội Khánh (phường Phú Cường, TP. Thủ Dầu Một), cùng nhau Bố tát, trùng tụng Giới bổn, nương Giới pháp để tấn tu đạo nghiệp. Và đây là lần Bố tát đầu tiên mùa ACKH PL.2566 - DL.2022.

van nghe chao mung hoi thao hoang phap 2011
Vững niềm tin Phật - Clip13
Xem thêm >>